Nội dung bài viết
I. NGUỒN GỐC – ĐẶC ĐIỂM
1. Nguồn gốc:
Photpho tồn tại trong nước thải chủ yếu dưới dạng vô cơ và hòa tan, chủ yếu là Orthophosphat (PO43-) và một phần là phosphate cô đặc (ví dụ P3O105-) từ chất tẩy rửa.
|
Photpho hữu cơ |
Photpho vô cơ |
|
– Este photphoric |
– Ortho-Phosphat (PO43-) |
-
Polyphosphate cô đặc và photpho hữu cơ thủy phân trong mạng lưới đường ống thông qua Exoenzyme thành Ortho-Phosphat (PO43-).
-
Tại nhà máy, khoảng 60% – 70% tải lượng P tồn tại dưới dạng PO4-
- Mật độ cao của sinh khối trong bước xử lý sinh học của nhà máy dẫn tới thủy phân toàn bộ thành PO43-
Nguồn chứa Photpho chính:
|
Nông nghiệp |
Phân, phân bón |
|
– Nước thải sinh hoạt |
– Phân, chất giặt, tẩy rửa, chất chống ăn mòn trong cấp nước |
|
– Nước thải công nghiệp |
– Chất giặt, chất bảo quản và các sản phẩm H3PO4, khác… |
2. Hiện tượng phì nhưỡng:
Chất dinh dưỡng Cacbon (C), Nitơ (N) và Photpho (P) sẽ được các sinh vật trong nước cũng như các Phytoplankton hấp thụ với tỷ lệ sau: C : N : P = 50 : 5 : 1 hoặc BSB5 : N : P = 100 : 5 : 1
– Về nguyên tắc, Photpho là yếu tố hạn chế.
– Nồng độ PO4-P từ 0,1 mg/l sẽ xuất hiện phi dưỡng.
– Đáng chú ý là photpho không được xử lý sinh học trong nước mà chỉ được đưa vào tế bào nhờ quá trình trao đổi chất của vi sinh trong nước.
– 1gam photpho tạo điều kiện cho sự hình thành ít nhất 100g sinh khối, ngược lại để phân hủy chúng cần 150g O2.
Các hậu quả khác của hiện trượng phi dưỡng:
– Ảnh hưởng xấu tới cơ cấu thể loại của động vật và thực vật => Khả năng tự làm sạch giảm.
– Đục nước, giảm chức năng dành cho hoạt động giải trí
– Ảnh hưởng xấu tới vị, gây mùi
– Ảnh hưởng tới khai thác và xử lý nước cấp
– Tăng cường quá trình tạo lắng tụ
3. Đặc điểm:
Trong các nguồn nước, photphat tồn tại ở dạng tan (đơn, ortho) trong nước, một phần lớn nằm ở lớp bùn dưới dạng muối ít tan (Ca, Fe, Al) hoặc trong các tế bào chất của động vật, thực vật. Trong điều kiện yếm khí của lớp bùn đáy, các dạng photphat không tan được một số loại vi khuẩn (Acinetobacter) phân hủy thành dạng tan, thâm nhập trở lại nguồn nước.
Ô nhiễm nguồn nước do các chất dinh dưỡng thể hiện ở hiện tượng phú dưỡng, liên quan trực tiếp đến sự phát triển ồ ạt của tảo và một số các loại thủy thực vật. Tảo là loại thực vật đơn bào có kích thước từ một vài tới một trăm um với chủng loại rất phong phú. Tảo có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein thô trong tảo khô có thể tới 50-60% (8-20% N). Vì vậy, là nguồn thức ăn tốt cho thủy động vật và của người. Tuy nhiên, có một số loại tảo có tính độc, trước hết là loại tảo lam (tên gọi tiếng anh là Blue Green Algae). Một số loại tảo ví dụ Oscillatoria (f.Chalybea) tiết ra một số chất gây mùi khó chịu như Geosmin, 2-methylisoborneol. Đặc biệt, gây tác hại là khi chúng chết đồng loạt, tạo ra môi trường nước mà phần lớn các loại thủy động vật không thể trú ngụ.
Xem thêm:>>>BỘT XỬ LÝ LÀ GÌ? ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM KHI SỬ DỤNG BỘT XỬ LÝ NƯỚC
Tảo cần đồng thời nhiều yếu tố để phát triển: nhiệt độ, ánh sáng, khí cacbonic, nitơ, photpho và một loạt các nguyên tố vi lượng. Thiếu một trong các yếu tố trên sẽ hạn chế sự phát triển của chúng. Trong các nguồn nước tự nhiên không bị ô nhiễm, tảo phát triển với mức độ vuwda phải và bị tiêu thụ bởi các loài thủy động vật, đặc biệt đối với động vật phù du có kích thước nhỏ.
Bảng 1: Xử lý photpho trong nước thải

Một số loài tảo (tảo lam) có khả năng cố định đạm từ khí nitơ để phát triển, nguồn photpho chỉ có được từ nguồn nước. Trong các nguồn nước tự nhiên, lượng photpho tan thường có nồng dộ rất thấp, ít khi vượt quá 0,1 mg/l. Nồng độ photpho tring nước mặn, nước lợ còn thấp hơn (~ 0,02mg/l) do trong nước biển chứa nhiều canxi, tạo thành các hợp chất khó tan.
Do nồng độ photpho tan trong nước thấp, nên để tồn tại được, tảo có khả năng hấp thụ photpho rất nhanh và triệt để, tới mức nồng độ dư ở dưới mức 1ug/l. Một số loài tảo có khả năng hấp thụ photpho nhiều hơn mức cần thiết, chúng dự trữ để sử dụng sau. Tảo lam là loại có khả năng tích trữ photpho khi môi trường giàu chất dinh dưỡng này, đó là đặc tính giúp cho chúng sống sót qua các giai đoạn thiếu chất dinh dưỡng.
Do dễ bị thiếu và rất cần thiết cho sự phát triển của tảo nên tiêu chuẩn thải về photpho thường rất ngặt nghèo, thường được quy định là 1mg/l.
Xem thêm:>>>CHỈ SỐ TSS TRONG NƯỚC THẢI [2023]
II. CƠ SỞ XỬ LÝ PHOTPHO
Hầu như tất cả các hợp chất của photpho không tồn tại ở dạng bay hơi trong điều kiện thông thường, vì vậy để tách photpho ra khỏi nước cần phải chuyển hóa chúng về dạng không tan trước khi áp dụng các kỹ thuật tách chất lắng như: lọc, lắng hoặc tách trực tiếp qua màng thích hợp. Hợp chất photpho trong môi trường nước thải tồn tại trong các dạng: photpho hữu cơ, photphat đơn (H2PO4-, HPO42-, PO43- ) tan trong nước, polyphotphat hay còn gọi là photphat trùng ngưng, muối photphat và photppho trong tế bào sinh khối.
Xử lý hợp chất photpho dựa trên các nguyên tắc sau:
Kết tủa photphat (đơn và một phần loại trùng ngưng) với các ion nhôm, sắt, canxi tạo ra các muối tương ứng có độ tan thấp và tách chúng ra dưới dạng chất rắn.
Bảng 2: Các hợp chất Photpho chính và khả năng chuyển hóa của chúng:
|
Hợp chất |
Khả năng chuyển hóa |
|
Photpho hữu cơ |
Phân hủy thành photphat đơn và trùng ngưng. |
|
Photphat đơn |
Tan, phản ứng tạo muối, tham gia phản ứng sinh hóa. |
|
Polyphotphat |
Ít tan, có khả năng tạo muối tham gia phản ứng sinh hóa. |
|
Muối photphat |
Phần lớn không có độ tan thấp hình thành từ photphat đơn. |
|
Photpho trong tế bào |
Thành phần của tế bào hoặc lượng dư trong tế bào của một số vi khuẩn. |

Tách các hợp chất photpho đồng thời với các tạp chất khác qua quá trình màng thích hợp: màng nano, màng thẩm thấu ngược hoặc điện thẩm tích. Về nguyên tắc hiệu quả tách lọc qua màng có hiệu suất cao nhưng do giá thành quá đắt nên hầu như chưa thấy có ứng dụng trong thực tế.

Các nội dung, thông số và phương án xử lý trên website chỉ mang tính chất tham khảo chuyên môn. Việc áp dụng cần dựa trên kết quả khảo sát thực tế và tư vấn trực tiếp từ đội ngũ kỹ sư của CMSE.
